Tác giả: Sư Ông Thích Nhất Hạnh
Chương 03: Xây dựng gia đình
Phần 1. Hạnh Phúc Gia Đình
Gia đình là môi trường hoàn hảo nhất để xây dựng đời sống tình cảm của con người; vậy nên tạo cho gia đình một không khí đầm ấm hạnh phúc tức cũng là đào tạo nên những con người có trái tim biết yêu thương, biết trách nhiệm. Có biết bao nhiêu gia đình đã là những địa ngục trần gian khó thở và khó sống, ta quyết phải làm đủ mọi cách cho gia đình ta trở nên ấm cúng và đầy thương yêu.
Chúng ta phải biết rằng con người không tình cảm thì không phải là con người. Không biết yêu thương cha mẹ mình và anh chị em mình thì sẽ khó mà yêu thương được nhân loại. Vì vậy cho nên Phật tử phải áp dụng phương pháp đạo Phật trong sự xây dựng gia đình mình thành một cộng đồng êm ấm và hạnh phúc. Giáo lý duyên khởi, tứ diệu đế và bát chánh đạo cũng có thể áp dụng rất thích hợp vào đời sống gia đình. Những Phật tử nào sắp lập gia đình hay vừa mới lập gia đình chớ nên khinh suất trong công trình xây dựng này, nếu không muốn tình trạng trở nên khó khăn về sau.
Chú Bảy mới lập gia đình cách đây bốn năm và chú đã có một cháu gái hai tuổi tên là bé Phượng. Là một giáo viên tiểu học, lương tháng không lấy gì làm to, nhưng chú Bảy không nghĩ đến cách đổi nghề để làm ra tiền nhiều hơn. Trái lại, chú yêu nghề và quyết tổ chức đời sống gia đình mình theo những nguyên tắc đạo Phật, đem thì giờ và năng lực thực hiện hạnh phúc cá nhân và gia đình theo giáo lý Phật Giáo. Thím Bảy không phải là người sống trầm tĩnh nhiều nội tâm như chú, thím còn trẻ mới hai mươi bốn tuổi, rất đảm đương, hoạt bát, ưa chuộng hành động hơn tri thức. Chú Bảy không buộc thím Bảy làm giống như mình; trái lại, chú còn tôn trọng cách sống của thím và tìm cách bổ túc cho thím. Niềm vui của thím không những chỉ là chăm sóc bé Phượng, chăm sóc cửa nhà vườn tược mà còn lo lắng cho các gia đình những trẻ em nghèo trong xóm. Chú Bảy khuyến khích thím và giúp thím trong công việc này dù rằng bài vở học trò của chú khá bề bộn. Chính vì thái độ ấy của chú mà thím Bảy vừa biết ơn vừa thương kính chú hơn. Thím biết tôn trọng những giờ tĩnh tâm của chú, biết giữ bé Phượng yên lặng hay đem bé Phượng đi chơi mỗi khi chồng cần sự yên tĩnh. Điều quý hóa nhất là thím biết lắng nghe chồng mỗi khi chú Bảy bàn luận về cách tổ chức đời sống gia đình theo phương pháp đạo Phật và cộng tác với chồng trong sự áp dụng những nguyên lý Phật Giáo.
Có một hôm hai vợ chồng bất đồng ý nhau về một chuyện nhỏ liên hệ tới giáo dục học đường. Thím Bảy làm chồng giận vì nói năng vô ý. Chú Bảy biết mình giận nên ra đi bách bộ ngoài bờ sông tới hai giờ đồng hồ. Trong hai giờ đồng hồ ấy, chú tĩnh tâm và thấy được rằng lỗi của thím Bảy rất nhỏ, so với đức hạnh và con người đẹp cả tinh thần lẫn thể chất của thím. Và chú thấy chú cần đem thương yêu để sửa chữa lại cái lỗi bé nhỏ của thím hơn là giận dỗi trẻ con. Thế là chú về nhà với tâm trạng bình tĩnh, an lạc và nụ cười trên môi. Hai vợ chồng thương mến nhau nhưng kính trọng nhau, nhờ vậy mà hạnh phúc lứa đôi rất bền vững. Chú Bảy không bắt vợ phải nghĩ và làm giống hệt như mình; chú không quan niệm như ở thời phong kiến rằng vợ là vật sở hữu của chồng, chồng muốn gì là phải làm theo. Chú biết trên căn bản nam nữ bình đẳng và với phương pháp kính trọng nhau, hai vợ chồng có thể xây đắp và duy trì hạnh phúc theo lời Phật dạy.
Gia đình gần gũi nhất với gia đình chú Bảy là gia đình ông Sáu, anh họ của chú. Chú thường hay đến chơi và rất thân mật với các con của ông Sáu. Chú cũng muốn giúp gia đình này một cách gián tiếp trong việc áp dụng giáo lý đạo Phật vào đời sống. Ông Sáu bà Sáu đều theo đạo Phật, các con đều biết đi chùa lễ Phật, nhưng họ ít hiểu đạo Phật và không thấy đạo Phật liên hệ nhiều tới đời sống kinh tế, tình cảm và giáo dục của gia đình.
Chú Bảy biết là sự xây dựng bản thân vốn thiết yếu căn bản cho sự xây dựng gia đình, nên đã suy nghĩ kỹ về vấn đề xây dựng bản thân, và thiết lập những phương tiện thực hiện.
Phần 2: Hai Thế Hệ Sống Chung
Hai thế hệ sống chung dưới mái nhà phải tìm hiểu tâm lý quan niệm và sở thích của nhau để tạo nên sự hòa hợp, điều kiện căn bản của hạnh phúc. Trong nhiều gia đình hiện nay, đã có một sự ngăn cách gây nên bởi sự thiếu hiểu biết giữa cha mẹ và con cái. Hai thế hệ có những nền giáo dục khác nhau sinh ra dưới những điều kiện kinh tế xã hội và văn hóa khác nhau thì cố nhiên là có những tâm trạng, quan niệm và sở thích khác nhau. Bậc làm cha mẹ phải tự nhủ rằng thế hệ trẻ bây giờ không thể nào suy nghĩ và ưa thích như kiểu xưa được, phải cố gắng tìm hiểu hoàn cảnh, tâm lý và sở thích của con cái để dùng kinh nghiệm mình mà hướng dẫn họ. Mình phải cởi mở, nhiều khi phải tùy thuận theo trẻ mà tân hóa một chút để có thể tạo nên sự cảm thông. Ông Sáu bà Sáu thường than phiền rằng lớp trẻ bây giờ bất trị, không dạy được, và không chịu tùng phục cha mẹ như thuở xưa. Thật ra thì hai ông bà không biết rằng bốn đứa con của họ đều có thể là những đứa con khá. Xuân Thảo, cô con gái đầu lòng năm nay hai mươi mốt mới vừa vào trường sư phạm đầu niên khóa ở Cần Thơ, mỗi tháng hai lần cô về thăm nhà vào những ngày cuối tuần. Cậu Nguyện mười chín, năm rồi thi tú tài hỏng. Hà, con gái năm nay mười bốn và Lộc, con trai mười hai đang học trường công lập tỉnh. Cả bốn cô cậu đều sẵn sàng nghe theo ý của cha mẹ, nếu ông bà Sáu biết dùng tình cảm để hướng dẫn con. Nhưng ông bà Sáu lại cứ nghĩ theo kiểu xưa, cho rằng cha mẹ có uy quyền tuyệt đối với con cho nên thay vì lấy thương yêu mà dạy dỗ ông bà lại làm cho con sợ, có khi dùng đến roi vọt. Nguyện có nhiều khi phản đối bằng cách không ăn cơm và đi vắng suốt một hai ngày. Ông bà Sáu không hiểu được cậu con trai mười chín này, cho rằng cậu ta gan lì, cãi lại cha mẹ, không chịu học hành đến nỗi thi rớt. Hồi Nguyện thi tú tài rớt, ông Sáu đã đè Nguyện xuống đánh sáu mươi roi, bầm da nát thịt; Nguyện bỏ đi suốt một tuần mới về. Mà hễ Nguyện ló đầu về nhà là lập tức ông chửi mắng.
Chú Bảy có nói chuyện riêng rất nhiều với đứa cháu mà ông Sáu cho là một đứa con ngỗ nghịch này. Chú Bảy thấy trong thái độ chán nản lì lợm của Nguyện những nguyên do sâu xa. Ông thầy toán của Nguyện không hiểu vì duyên cớ nào hễ thấy mặt Nguyện là ghét. Suốt năm như vậy. Suốt năm, Nguyện không học toán được, cuối năm Nguyện hỏng toán. Cái xe đạp của Nguyện bị mất cắp hồi đầu niên học, và vì vậy Nguyện cũng đã bị một trận đòn. Nguyện lại cũng bị ông Sáu phạt nhịn cơm vì đánh lộn ngoài đường với một anh chàng trạc tuổi Nguyện, mà không cần tìm biết lý do. Nguyện cho rằng cả ba lẫn má đều ghét mình, nên không bao giờ nói chuyện mình với ba má.
Chú Bảy khuyên ông bà Sáu nên trầm tĩnh để tìm hiểu Nguyện. Chú nói: “Thời bây giờ ta không thể xem con cái như vật sở hữu của ta nữa. Ta không nên nghĩ là ta có quyền bắt chúng phục tùng theo tất cả mọi ý muốn và sở thích của ta. Giáo dục học đường đã thôi dùng roi vọt và quyền uy của vị thầy giáo rồi. Giáo dục học đường đã được cách mạng; thầy giáo chỉ là người hướng dẫn, làm hiển lộ và phát triển khả năng của học trò mà thôi, chứ không còn là người có thể bắt buộc học trò phải nghĩ như mình nghĩ và làm như mình làm. Bậc cha mẹ có ảnh hưởng lớn lao tới con cái, và ảnh hưởng này được thực hiện bằng tình thương yêu chứ không phải bằng uy quyền.
Luân lý mỗi thời đại mỗi đổi khác, tùy theo quan niệm nhân sinh của con người. Luân lý của đạo Phật không phải là một mớ giáo điều chắc nịch mà là những nguyên tắc linh động phù hợp với sự sống và sự sáng tạo. Đạo Phật chống lại thái độ cố chấp và giáo điều. Nguyên tắc đầu tiên của luân lý đạo Phật là thái độ cởi mở: Phải bỏ hết mọi thành kiến, phải có óc cởi mở để hiểu được kẻ khác, phải biết đứng vào hoàn cảnh kẻ khác để mà hiểu kẻ khác; đừng đứng trong cái vỏ cứng chật hẹp của thói quen để buộc tội và trách móc họ. Bậc làm cha mẹ phải tự nhủ: Có lẽ mình đã “xưa” quá rồi, mình phải thích ứng thêm với thời đại mới một ít mới được. Tìm hiểu tâm lý trẻ bằng cách nhận xét hoàn cảnh xã hội và học đường của chúng để có thể thông cảm với chúng nhiều hơn. Mục đích của luân lý đạo Phật là để gây nên hiểu biết cảm thông và hạnh phúc, chớ không phải là để gò bó con người trong sự chịu đựng khổ cực và đầy dẫy phiền muộn căng thẳng. Nếu đạo đức mà chỉ gây nên phiền não, căng thẳng và khổ đau thì đó không phải là đạo đức mà là sự cố chấp. Đừng vì sự cố chấp vào những thành kiến và những thói quen mà làm tan vỡ hạnh phúc gia đình.
Xuân Thảo, con gái lớn của ông bà Sáu, cho rằng ba má cô quá khắt khe và cổ hủ. Cô rất buồn, không thể đem chuyện tâm tình mà bàn với ba má, ít nhất là với má. Cách đây mới hơn một năm, bạn trai của cô gởi thư cho cô, bị ông bà Sáu bắt được. Ông bà làm như con gái mình đã hư hỏng, phá hoại danh giá gia đình. Ông bà mắng nhiếc cô con gái đủ điều. Thời xưa, thời trai trẻ của hai ông bà, sự giao thiệp nam nữ bị cấm chỉ, nhưng thời nay khác. Các cô các cậu bây giờ học chung một trường, trao đổi ý kiến, làm việc xã hội chung, tìm hiểu nhau, biết giá trị thật của nhau, hay yêu mến nhau, viết thư thăm nhau, đó là chuyện thường. Theo tiêu chuẩn sinh hoạt xã hội hiện thời, nhận thư của bạn trai không có gì là trái chống luân lý đạo đức hết. Thái độ chật hẹp, không biết thích ứng với thời đại cũng như sự thiếu hiểu biết chỉ khiến cho sự đầm ấm gia đình chắp cánh bay mất mà thôi.
Với lại, con trai con gái bây giờ phải cho họ gặp gỡ nhau, tìm hiểu nhau, để sau này sự chọn lựa hôn phối của họ được cân nhắc kỹ càng. Sự giao thiệp nên để tự do, miễn là trong mức độ lễ giáo. Cha mẹ nên nói chuyện thẳng thắn và góp ý nhận xét với con cái về sự chọn lựa của chúng.
Trong một gia đình tân tiến, sự có mặt của người cha hay người mẹ không lấn át sự có mặt của những người con, cha mẹ không xử dụng uy quyền mình để làm cho con cái sợ hãi, lấm la lấm lét. Phải để cho chúng có mặt với nhân cách tự nhiên của chúng, miễn là chúng biết tôn trọng kỷ luật và quyền tự do của kẻ khác trong gia đình.
Con cái cũng nên biết rằng cha mẹ thuộc vào thế hệ xưa hơn mình, rằng các vị đã chịu nhiều khổ đau khó khăn và va chạm trong thời niên thiếu và trong công cuộc mưu sinh nên dễ trở nên khó tính và cáu kỉnh. Con cái nên cư xử thế nào để mình trở thành niềm vui và sự tự hào của cha mẹ. Trước hết phải hiểu mọi nỗi khó khăn của cha mẹ, phải hiểu những điều kiện và hoàn cảnh xã hội của cha mẹ, phải ráng làm cho cha mẹ hiểu hoàn cảnh của mình và sở thích của mình. Đừng giận dỗi hờn lẫy và trách móc khi các vị chưa hiểu mình. Phải làm đủ mọi cách để cha mẹ có thể tham dự vào những lo lắng buồn vui của mình, mà phương pháp hay nhất là phải tham dự vào những lo lắng buồn vui của cha mẹ.
Hai chị em Xuân Thảo và Nguyện, trong thâm tâm, cũng biết rằng hai ông bà xưa và hủ quá, không thể nào hiểu được mình; có tìm cách giải thích cũng vô ích. Họ có biết đâu họ cũng có trách nhiệm nặng nề về tình trạng thiếu cởi mở của gia đình. Họ nông nỗi, chỉ biết hờn biết giận mà không nghĩ sâu đến công ơn dưỡng dục và ước vọng của ba má muốn cho mình nên người. Ba má không hiểu mình thật, nhưng mình phải có bổn phận làm cho ba má hiểu. Mà muốn làm cho ba má hiểu, trước hết mình phải hiểu được ba má. Họ sinh ra trong những điều kiện kinh tế, giáo dục và xã hội khác ta, họ không thể có tâm trạng ta, cái nhìn của ta. Ta phải lưu tâm ân cần chia xẻ những mối lo buồn của ba má, rồi dần dần làm cho ba má hiểu ta. Chú Bảy đã nói với hai chị em như thế.
Phần 3. Sự Chia Xẻ Và Tham Dự Của Con Cái
Con cái phải chia xẻ những lo âu nặng nhọc của cha mẹ và dự phần vào những quyết định của cha mẹ. Nếu cha mẹ ít đem những lo âu khó khăn của mình mà bàn với con cái, là vì họ nghĩ rằng con cái mình đang trẻ dại quá, chưa biết gì để chia xẻ những lo âu khó khăn ấy với mình. Cũng là vì con cái thờ ơ, chỉ lo chuyện mình, chỉ biết đòi hỏi trách cứ mà không biết chia xẻ. Một đứa bé năm bảy tuổi thấy mẹ buồn đã có thể hỏi mẹ tại sao mẹ buồn, và dù bà mẹ không thể nói cho con nghe những lo lắng buồn phiền của mình chỉ vì đứa con còn nhỏ quá chưa hiểu được, cũng cảm thấy được an ủi phần nào. Bậc làm cha mẹ nào cũng có những lo âu khó khăn. Con cái phải ân cần thăm hỏi, trước hết là để hiểu những lo âu khó khăn đó sau là tìm cách chia xẻ bằng sự lưu tâm của mình và bằng những cố gắng trong khả năng mình để giúp đỡ cha mẹ. Sự hiểu biết chia xẻ những lo âu khó khăn kia, thực ra, cũng đã là một nguồn an ủi lớn lao cho cha mẹ rồi. Hiểu được cha mẹ, mình sẽ không còn vô tâm làm những điều gây thêm buồn phiền bực dọc cho quý vị, mình sẽ không đòi hỏi những điều quá đáng chỉ làm cho cha mẹ thấy là mình vô trách nhiệm đối với gia đình.
Con cái nên được tham dự vào các quyết định của cha mẹ và tìm cách để được tham dự vào các quyết định này. Các bậc cha mẹ nếu cho con cái dự phần vào các quyết định của gia đình, có thể là trong hình thức hỏi ý kiến của con, thì thể tập cho con ý thức trách nhiệm về những vui buồn thành bại của gia đình. Loại con cái ra khỏi những cuộc bàn luận về các vấn đề gia đình cố nhiên sẽ đưa chúng đến thái độ phó mặc vô trách nhiệm. Bác Tư có một đứa con trai muốn vào đại học trong khi bác thấy không đủ sức cho con đi Sàigon. Nhưng bác không gạt ngang nói “không có tiền, mày sẽ không vào đại học”. Trái lại, hai bác nói chuyện thân mật với Hùng về tình trạng tài chánh gia đình, cho Hùng biết mọi chi tiết về tình trạng này và hỏi con xem nó nghĩ như thế nào, và có biện pháp gì không. Có thể là Hùng sẽ quyết định thôi học; có lẽ Hùng sẽ đề nghị kiếm thêm tiền bằng cách dạy kèm trẻ em mỗi ngày vài giờ để phụ vào ngân sách gia đình khiến cho sự học của Hùng có thể tiếp tục ở cấp đại học.
No comments:
Post a Comment